Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 32



Trích: Trời Quang Yên Tử

Trên non Yên Tử ngày trời quang
Bức TRANH thủy MẶC dưới nắng vàng
Nhấp NHÔ như SÓNG triền ĐỒI núi
Xa xa một dải Bạch Đằng giang.

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 31



 


Trích:Tổ Trúc Lâm

Minh quân Hoàng đế Trần Nhân Tông
Đức Vua hiển Phật đời nhà Trần
Thắng GIẶC Mông - NGUYÊN tu CÕI Phật
Lưu đời đệ nhất Tổ TRÚC Lâm.

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 30



Trích:Thác Vàng

Ngọn nước như từ trời đổ xuống
Cây rừng khép tán nép bên khe
Mảnh trời ngọn tháp thiên thu thủy
Đâu biết nơi đây có nắng hè!

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 29



Trích: Tặng Sư Thầy

Một khắc mây tan giống ĐẦU rồng
Trập trùng uốn lượn giưã hư không
Bóng Thầy chống gậy trên sườn núi
Có phải người xưa cảnh cũ không?

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 28



Trích: Sữa Mẹ

Ngách hang núi đá núm VÚ con
Sữa mẹ linh thiêng nhỏ giọt tròn
Nhỏ DẦN từng GIỌT đêm ĐẦY bát
Nước đầy chỉ một bát con con

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 27



Trích:Oan Tình

Đệ tam Tổ Trúc Lâm - Huyền Quang
Oan TÌNH Điểm BÍCH bởi dật vàng
Anh TÔNG sao NỠ gây PHIỀN lụy
Quốc sư khó tránh mối ngờ oan.

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 26




Trích:Núi Phụ Tử

Phụ tử phải chăng núi Tử Yên
Phúc lai sinh được núi con hiền
Con cao, cha thấp tên Yên Tử
Phúc địa ngàn xưa gọi núi thiêng.

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 25



Trích: Miếu Nhỏ

Miếu nhỏ thờ công chúa Nguyệt Nga
Linh thiêng phúc địa lập MIẾU bà
Trấn GIỮ cửa RỪNG Linh Sơn Tử
Bòng THƠM đại TRẮNG một ĐỜI hoa.

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 24



Trích: Làng Cung Nữ

Làng Mụ, làng Nương đường NAM Mẫu
Xưa kia nước ngập trắng lòng hồ
Vua Trần thương xót đoàn cung nữ
Lòng TRUNG không TRỞ lại KINH đô.

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 23






Trích: Khỉ Rừng Yên Linh Tử

Bên ngôi tháp đá chú KHỈ con
Mẹ BỒNG bắt RẬN cứ XOAY tròn
Mấy CON đùa BỠN kêu CHÍ chóe
Thấy người mất hút biến vào non.

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 22



Trích: Hoa Sung

Điều Ngự hóa thân thành HOA sung
Đàn chim xanh đậu hát ca mừng
Phải chăng cung nữ về chung hội
Vua TRẦN xa GIÁ hậu HOA cung?

Cầu vồng bảy sắc hiện nơi đây
Khóm lá mượt xanh hoa NỒNG cay

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 21






Trích:Hồ Yên Trung

Yên Trung vắt vẻo ngang lưng núi
Bốn BỀ mây BIẾC sóng LÔ xô
Đôi BỒNG đảo BẬP bềnh TRÊN sóng
Cả rừng thông XAO động MẶT hồ.

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 20



Trích: Hổ Thiêng

Hổ phục bên hang giếng nước thiêng
Sư chùa tụng Phật, hổ ngồi thiền
Chuyện CŨ ngàn XƯA lưu TÍCH lại
Soi MÌNH tượng HỔ nước NON tiên.

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 19



Trích: Đường Vào Yên Tử

Đường vào Yên Tử có KHÁC xưa
Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa
Trập TRÙNG núi BIẾC cây XANH lá
Đàn BƯỚM tung BAY trong NẮNG trưa.

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 18



Trích: Động Chuà Rồng

Chuyện kể ngày xưa động CHÙA Rồng
Quả NÚI trông HÌNH giống Kỳ Lân
Đài sen hoa nở vua lên ngự
Toả sáng hào quang Bạch YÊN Vân

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 17



Trích: Dốc Đá Chuà Đồng

Triền đá dốc nghiêng về phiá Đông
Đằng tây vực thẳm cạnh chuà Đồng
Ngổn ngang đá xếp thiên đồ trận
Trời MÂY gió NÚI cõi HƯ không

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 16






Trích: Đêm Hồ Yên Tử

Cát vàng thoai thoải sóng lao xao
Cá TO phởn CHÍ nhảy LÊN cao
Le LE xanh BIẾC đuà TUNG cánh
Chim gù trên núi cảnh tiêu dao

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 15



Trích: Cổng Trời

Cổng trời đá núi xếp chênh vênh
Đường hẻm quanh co bước gập ghềnh
Linh SƠN Yên TỬ bao ĐỜI đó
Chuà Đồng sừng sững giưã non xanh

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 14


Trích: Chuà Yên Hoa

Xiêu xiêu cây đại trắng NỞ hoa
Đây đúng nơi xưa chuà YÊN Hoa
Trần NGẦN dạo BƯỚC vân PHONG vũ
Cảnh CŨ người XƯA có đây mà

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 13




Trích: Chuà Trình

Cây đa thuở trước gió sương gầy
Chuà TRÌNH dốc ĐÁ dưới VÒM cây
Trước cưả uốn cong dòng suối tắm
Sương mờ du khách bước trong mây

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 12



Trích: Chùa Lân

Xa xa rợp bóng ngõ chùa lân
Ngõ CHUÀ đá LÁT cuốn bụi trần
Thời GIAN dòng CHẢY người QUA lại
Có ĐƯỢC mấy NGƯỜI kẻ tri ân?

Hoàng Quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 11



 


Trích: Chuà Đồng

Chuà Đồng toạ lạc đỉnh Yên Sơn
Lô XÔ sóng NÚI gió MÂY vờn
Tiên cảnh Bồng Lai nơi TRẦN thế
Rồng vàng ẩn hiện điạ linh sơn

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 10



Trích: Chuà Bảo Sái

Mịt mù Bảo Sái quyện mây bay
Lâu RỒI thầy MỚi trở LẠi đây
Gặp THẦY gặp TỔ trong MÂY gió
Dừng BƯỚC chuà XƯA mây trong mây

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 9



Trích: Cảm Thán

Từ bỏ đài son điện ngọc ngà
Cung tần mỹ nữ chốn kiêu sa
Yên Sơn Linh Tử vua Trần đến
Kinh ĐÔ, thành CŨ mỗi bước xa.

Non xanh cắt tóc dứt duyên trần
Vua đến nơi đây để nhập thiền
Không phải trốn đời và yểm thế

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 8



Trích: Bạch Vân Sơn

Non cao mây trắng Bạch Vân Sơn
Kỳ SINH đắc PHÁP cõi TRƯỜNG tồn
Bia pháp trường quan Linh VÂN Tử
Giận mình hoá đá toạ Yên Sơn

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 7



Trích: Am Xưa

Trúc lách qua kẽ đá nền am
Đọt măng mập mạp giưã đá vàng
Bạt ngàn trúc biếc chen hoa nở
Gió thổi lau thưa vọng tiếng đàn

Phẳng phiu bãi cỏ mọc xanh rì
Tùng lâm Yên Tử cuả ca thi

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận phần 6



Trích: Đường Rừng

Cổ thụ vươn cao xoè tán rộng
Rừng già nắng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chim rừng líu lót với hương trời

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 5



Trích: Chuà Bà Ngô

Quạnh quẽ am xưa ánh dương tà
Phong quang thay đổi tiếng quạ xa
Ngọc am chuà báu mờ sương lạnh
Cây ổi trước chuà đã đơm hoa

Hoàng quang Thuận

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 4



Trích: Đền Phủ Khống

Tuẫn tiết theo vua bảy danh thần
Lòng trung vì nghiã tiếc gì thân
Khói hương nghi ngút đền Phủ Khống
Ngàn năm con cháu mãi tri ân

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 3



Trích:  Cố Đô Hoa Lư

Cố Đô Đại Việt thành Hoa Lư
Núi NON trùng ĐiỆP phủ MÂY mù
Kinh ĐÔ Việt CỔ nằm THUNG rộng
Đại THẮNG Minh HOÀNG mãi ngàn thu

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 2



Trích: Cung Điện Triều Đinh

Trường Xuân cung điện triều nhà Đinh
Phong LƯU cực LẠC cả CUNG đình
Hoang phế ngàn năm trong LÒNG đất
Dấu ẤN một THỜI thịnh HIỂN vinh

Hiện Tượng Thơ Rỏm Hoàng Quang Thuận Phần 1



Tôi rất bất bình trước việc ông Hoàng quang Thuận đạo thơ văn từ cuốn sách mua ở chùa Trúc Lâm Yên Tử. Nhưng Thuận lại biạ ra chuyện kim xà báo mộng. Theo lời Thuận kể như thể kim xà là thân mạng của đức vua Trần nhân Tông vì nhớ ơn cứu mạng của Thuận. Thuận kể lể là do nhân một buổi đi chuà cùng với một phái đoàn Phật Tử miền Nam ra Bắc có mua lại con rắn mào đỏ của anh chàng dân tộc cha ky chú kiết nào đó, sau đó Thuận làm việc rất nhân đức phóng sinh con rắn đó đi.

Đôi Điều Về Hiện Tượng Thơ Rỏm Của Hoàng Quang Thuận






Vô tình đọc trên mạng Facebook, tôi thấy có đăng về thơ Hoàng quang Thuận. Bình thường ra tôi rất ít khi lên tiếng hay viết bài bình thơ cuả ai đó mà tôi không có cảm tình, cảm xúc và ngưỡng mộ. Miễn rằng người đó không viết ra những câu thơ dớ dẩn tuyên truyền phản văn minh tiến bộ lưà bịp dân tộc như nền mạo hóa Marxít Lêninít Maoít  Cộng sảnít là được rồi. Nhưng lần này tôi buộc phải phá thông lệ quy tắc sống cuả riêng tôi.

Văn Thơ Lề Trái Và Lề Phải



Ở các trang báo mạng điện tử hải ngoại chúng ta được tự do bàn nhiều về chuyện văn thơ, chính trị, thời sự, cổ kim, Âu - Á và cả những lời qua tiếng lại cuả các tác giả bất đồng chính kiến hay những tranh cãi cá nhân v.v.... Tôi cũng thường xuyên đàm đạo với các bạn đủ mọi chuyện lớn nhỏ từ giết trâu mổ bò đao to búa lớn cuả chữ nghĩa cho cái gọi

Văn Thi Sĩ Dưới Chế Độ Đồng Loại Ăn Thịt Người



Nếu muốn trở thành thi sĩ thực sự trong lòng nhân thế, thì hãy quên đi hai chữ danh vọng. Danh vọng tiếng tăm người đời thường ham muốn; nhưng cũng chính nó sẽ giết chết hồn thơ và cảm hứng sáng tác. Đỗ Phủ, Lý Bạch, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Tản Đà, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử v.v đã để lại cho chúng ta những kiệt tác bất hủ lưu danh thiên sử ngàn thu. .Trong khi đó các vị đó lại có một cuộc sống nghèo xác xơ. Có những người làm thơ ra, thiên

Tình Yêu Hoang Dại



Tạo hóa đã sinh ra muôn loài. Loài nào cũng có hai giống đực cái, quấn quít bên nhau thành đôi lưá cả. Ta thấy chim phượng hoàng, chim thư cưu hai con đực cái ân ái với nhau cho đến suốt đời để làm ví dụ. Đối với con người thì được trịnh trọng gọi là vợ chồng, phu phụ, phu thê, bạn đời, ân nghiã tào khang v.v... Nhưng vẫn có một hạng người mà bộ

Tâm Sự Văn Chương Với Anika Trinh



cảm hứng thơ tứ từ đĩa ổi xanh

Cám ơn em điã ổi xanh để cho anh có cảm hứng thơ tứ tức thời, rất ngẫu hứng. Làm thơ là một loại hình nghệ thuật sáng tạo cuả ngôn ngữ và tình thần.
Phải đọc nhiều, là người từng trải vô tư thẳng thắn hỉ nộ ố ái phải rõ ràng. Không câu nệ tiểu tiết thể loại hình thức dài ngắn. Lúc cần viết dài thì dài theo trí tưởng tượng mênh

Tâm Hồn Thơ Văn



Tạo hóa đã sinh ra loài người, cỏ cây muông thú, trái đất, bầu trời , trăng sao v.v…thứ gì cũng theo một cặp đực cái, âm dương, chuyển động tuần tự theo phong thủy ngũ hành. Văn và thơ là sản phẩm của trí tuệ, tinh thần cũng không phải là ngoại lệ. Văn là chồng, thơ là vợ, như dương với âm, có lúc như nước với lưả. Còn muốn cân bằng cả âm dương, đực cái thì tạo ra trung hoà , chắc chắn ta không còn khả năng phát triển nưã như ta gọi thường gọi là đồng cô, đồng bóng, hay là đồng tính luyến ái. Thường thường thì dương thịnh âm suy và ngược lại âm thịnh thì dương suy. Trong âm có dương và ngược lại trong dương cũng có âm. Cái gì cứ đổ xô mãi về một cực đến tận cùng thì lại thường đảo chiều phát triển ngược lại.

Theo triết học cuả Hegel trong quy luật mâu thuẫn ông cũng bàn về hai mặt đối lập luôn đấu tranh tương tác lẫn nhau lẫn nhau bổ khuyết cạnh tranh nhau để cùng vận động tiến lên nhưng chúng không cực đoan tiêu diệt thủ tiêu nhau như lão già Các Mác nghĩ. Giống như trong gia đình vợ chồng là một thực thể, một tế bào cuả xã hội. Ta cứ coi như chồng mang dương tính và vợ là âm tính. Chồng có lý trí mạnh thì át người vợ và vợ phải nghe chồng thờ chồng cho trọn đạo nghiã. Người chồng ngu tối thì người vợ phải đảm đương vai trò gia chủ thay chồng quản trị gia đình thì lúc này âm tính cuả gia đình mạnh và dương tính suy.

Bọn phát xít cố công săn lùng tiêu diệt hết người Do thái đến tận cùng cuả tội ác thì lại đảo chiều nguợc lại tạo ra nhà nước Israel sau hai nghìn năm lịch sử. Mao Trạch Đông lúc sinh thời là một lãnh tụ anh minh tối cao, sau khi chết đi lịch sử đánh giá là một người có chỉ số IQ quá thấp hơn cả người dân bình thường. Hitler cũng vậy sau khi chết đi thì lại lòi ra là một người có bệnh tâm thần.Trong đúng có sai, trong sai có đúng. Theo tôi văn là đặc điểm cuả dương tính coi như giống đực, nên văn là giống mạnh quen nói dai, nói dài miên man bất tận, hừng hực như lưả cháy. Còn thơ là đặc điểm cuả âm , cuả giống cái nên thơ mềm mại như làn nước, ngắn gọn và mơ mộng, bay bổng như mây như gió.

Thơ văn là một cặp bài trùng luôn đi bên cạnh nhau, đồng thuận cũng có lúc đối chọi nhau như âm dương, nước lưả, tối sáng, ác thiện luôn sảy ra để tạo thành sự phát triển, tàn lụi và tự bị hủy diệt...Rồi tự phủ định để tạo nên một bình diện thẩm mỹ, nghệ thuật trí tuệ cảm xúc cao hơn. Dùng văn để bình thơ, tìm ra những cái phi lý vô nghiã vô cảm cuả thơ hay động viên ca ngợi cái hay chân thiện mỹ vẻ đẹp cao thượng cuả thơ. Cảm ơn Thượng đế toàn năng đã ban cho muôn loài một linh hồn để duy trì sự tồn tại. Nhờ có linh hồn mà có tình yêu giưã đàn ông và đàn bà. Nhờ có linh hồn mà các văn thi sĩ đã viết văn và làm thơ.

Vậy ta hỏi linh hồn là gì? Thì đến nay vẫn chưa có một câu trả lời chính xác. Người thì bảo nó giống như một bóng ma chỉ hiện về đêm và rất sợ ánh sáng, nó có thể đi xuyên qua tường, hoặc nó có thể nhập vào một người khi lên đồng cốt. Cân, đo, tóm bắt hồn khí quả là một việc rất khó khăn cho khoa học hiện đại. Đạo Thiên chuá khảng định khi chết đi thì hồn về trời dự tiệc với Thiên chuá . Đạo Phật không thưà nhận có linh hồn, nhưng lại gọi là giác linh tìm về cõi niết bàn. Tin vào bản ngã cái nghiệp lực tạo ra mà luân hồi chuyển kiếp. Người cộng sản thì sổ toẹt tất cả, làm quái gì có linh hồn, giác linh, ma quỷ, thần thánh. Tất cả chỉ là những phản ứng lý sinh, hoá sinh sảy ra trong bộ não. Sự giải thích tạm bợ thiếu trách nhiệm cuả những người duy vật vô thần đã đơn giản xoá bỏ sự tồn tại cuả linh hồn, tâm hồn và coi đó chỉ là sản phẩm cuả vật chất.

Văn thơ là sản phẩm sáng tạo cuả tình yêu, trí tuệ và tâm hồn mà chính họ lại coi khinh không có linh hồn hiện hữu, không có sự tồn tại vĩnh cửu cuả linh hồn thì không hiểu họ làm thơ viết văn là nhờ bởi cái gì? Làm thơ, viết văn không cần tâm hồn trái tim yêu thương mà chỉ dưạ theo chủ thuyết ba voi, ba xu nào đó, theo đề cương, nghị quyết, pháp luật nhà nước thì không hiểu họ là giống loại gì ở trên hành tinh này? Thi sĩ thường đa cảm, thơ là trái tim yêu thương cuả người mẹ, cuả sự tồn tại và sinh nở. Nên cái lụy cuả thơ lớn lắm, như Nguyễn Du đã dồn hết cả tâm sức để viết truyện thơ về Kiều, không phải chỉ là mua vui cũng được một vài trống canh.

Nguyễn Du là một nhà nho uyên thâm bác học thì ai cũng biết, thơ đường cuả cụ đã nói rõ về cái đạo học làm người cuả cụ, triết lý về nhân sinh huyền diệu vô cùng.  Đọc Truyện Kiều mà làm cho lòng ta tâm hồn ta thấy phấn chấn lên vài trống canh cũng là chuyện hiếm hoi lắm rồi. Hai người đàn ông và đàn bà ân ái giao hợp với nhau giỏi lắm một trống canh thôi đã đủ rồi. Ngày xưa người ta tính một đêm là 5 canh, tính từ 6 giờ chiều hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau. Canh một từ 6 giờ chiều đến 8 giờ 24 phút tối. Vài trống canh để đọc Truyện Kiều cũng tức là thức trắng đêm rồi. Cổ kim xưa nay có tác phẩm văn thơ nào lại có giá trị và sức hấp dẫn khinh khủng như vậy. Cho nên nghe cụ nói tưởng như với ý nhún nhường khiêm tốn nhưng thực ra cái ẩn ý giá trị cao thâm là ở đó.

Người cộng sản u mê tăm tối, họ thích khoa trương, háo danh và thích tự ca ngợi mình một cách thô bạo trắng trợn. Cho nên ta cũng chẳng ngạc nhiên khi họ hay dùng cái từ đỉnh cao cuả trí tuệ loài người cho cái chủ nghiã rẻ rách ba xu cuả họ. Nếu nói triết học Mác, cuốn Ngục Trung Nhật Ký mượn tạm cuả Tàu cho ông Hồ là mua vui cũng được một vài trống canh có lẽ họ phát khùng lên và chửi bậy cho ai đó là phản động dám nói xấu Mác và ông Hồ cuả họ.

Bàn thêm chút ít về thiên tài Nguyễn Du. Tôi đã đọc hết tập Truyện Kiều kiên trì mỗi ngày là một trang thôi, cố gắng học thuộc dù chỉ trong một ngày, hôm sau có quên đi thì cũng chẳng sao. Mỗi trang thơ lục bát cuả cụ là cả một thế giới nội tâm, một nghệ thuật siêu đẳng không thể thay một chữ nào. Tôi không thể miên man một vài trống canh được mà kéo dài hàng tháng mới xong.
Kể cũng thương cụ, tài hoa như vậy nhưng thể lực nhà thơ lại mảnh khảnh ốm yếu, trong một hoàn cảnh lại loạn lạc, trao đảo bao nhiêu điều bất công trái tai gai mắt vẫn sảy ra.  Sau này làm quan to, dù bổng lộc vua ban, quyền cao chức trọng nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn khổ hạnh. Nguyễn Du không thể nào vô tư với cuộc đời. Nguyễn Du một tài năng sáng tạo, một trí tuệ siêu phàm nhưng ông lại thất bại bởi nội lực sức bền bỉ bởi chính tâm hồn uỷ mị cuả ông, như khí âm thắng khí dương. Giá như Nguyễn Du còn là một võ quan thì hay biết bao? Ta thường nói âm thịnh dương suy. Nguyễn Du tin Phật nhưng ông không thể ngồi thiền như Phật và ông vui lòng với cái chết khi tuổi đời còn rất trẻ.

Rồi nưã còn Đỗ phủ, Lý Thái Bạch, Tản Đà, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử v.v…Linh hồn cuả họ đều phải chịu nhiều đau khổ kiệt quệ trên đường đời. Họ đã tìm thấy sự vô tư trong chén rượu, công bằng để nghĩ về thân phận và làm thơ. Khi tỉnh dậy thì sự thật miếng cơm manh áo bệnh tật, tuổi già vẫn phũ phàng đeo đuổi dày vò đày đoạ họ. Nhưng vẫn còn cái may họ là những con người hoàn toàn tự do. Những sáng tạo những vần thơ tha thiết bi thương cuả một tâm hồn tự do để lại cho con cháu. Họ làm thơ không phải như những cái máy vô hồn theo một lý tưởng chủ nghiã nào cả. Là thi sĩ theo tôi nên để cho tâm hồn mình tự do, sáng tác theo cảm hứng. Nếu còn bị trói buộc vì một lý do nào đó như danh vọng, điạ vị, tiền tài, chính trị, đảng phái, đề cương, chủ thuyết v.v..

Cho dù có làm cò mồi tuyên truyền sùng bái cho một cá nhân nào đó để kiếm cơm, dù có lắm huân chương bằng khen nhưng họ chỉ là những người máy tuôn văn nhả chữ một cách vô ý thức mà thôi. Sống như vậy nhục lắm thà rằng sé toạc bản thảo ném tất cả vào sọt rác, hãy ra bến cảng bốc vác kiếm thêm xu vẫn còn hơn… Dù có viết ra trước sau sẽ bị thời gian đào thải, chưa biết chừng còn bị nguyền ruả làm tiếng cười cho ngàn năm sau như chàng thi sĩ cóc Tố Hữu chẳng hạn, hay như chàng Xuân Diệu gò lưng tôm ra để làm ra những bài vè, viết văn viết báo ca ngợi đảng và bác Hồ. Họ cứ tranh giành đấu đá kèn cưạ củ hành củ tỏi để thoá mạ người nọ chửi bới người kia, kết tội nâng quan điểm lập trường để đẩy bao nhiêu người mà họ ghét vào tù, hòng nâng bi báo công với đảng.

Kể cũng tội cho những văn thi sĩ có tài nhưng sớm tàn lụi vì lúc sinh thời cứ bốc thơm mãi cho Stalin, Mao Trạch Đông và ông Hồ, cứ theo đuổi gò bó trái tim cảm xúc cuả mình trong cái đề cương khỉ gió cuả ông Trường Chinh. Tóm lại thơ văn phải có hồn người, thơ văn là cuộc đời thực, thơ văn không biết nói sai nói điêu, sau đó mới đến nghệ thuật.

Nhân tiện đây tôi cũng có ý kiến: Làm văn thoải mái hơn, nếu học nhiều qua nhiều trường lớp miễn là không viết sai chính tả nhiều quá là được rồi. Nhưng làm thơ theo tôi phải đủ 5 điều kiện cần phải có:

1.-Thiên hứng bẩm sinh phải có, chưa cần đến mức phải xuất khẩu thành thơ.
2.- Đức tính trung thực, ngay thẳng phải có, cấm lươn lẹo lèo lá, tiền hậu bất nhất. Nếu ai đó có tính gian giảo thì tốt nhất đừng làm thơ nưã mà nên viết bình luận, nếu ở xã hội CS vẫn được trọng dụng để dùng trong công tác cắt câu bẻ chữ, nói xuôi cũng được, nói ngược cũng được.
3.-Đọc nhiều từng trải, đam mê học tập trau dồi khả năng nghệ thuật.
4.-Phải có dục tính, nghiã là người khoẻ mạnh sinh lý điều hoà. Một thi sĩ đồng tính luyến ái không thích đàn bà thì trong thơ sẽ có vấn đề ngay. Sự đam mê yêu vẻ đẹp cuả người phụ nữ thúc dục thi hứng cuả thi sĩ, hay các nữ thi sĩ cũng vậy. Người phụ nữ lãnh cảm không có hứng thú với đàn ông thì sẽ không thể làm thơ được.
5. Phải thạo tiếng mẹ đẻ, đọc thông viết thạo chữ quốc ngữ.

Sau đây gọi là cây nhà lá vườn xin có bài thơ muốn chia sẻ với các bạn đọc.


Chiều Thương Cố Quốc

Thơ thẩn chiều nay nhớ cố hương
Thương người thiếu phụ vạn trùng dương
Mây ơi nhắn gửi miền kinh bắc
Mang tấm hình xưa đã héo lòng

Tôi nhớ không nguôi tiếng gọi hè
Khi con tu hú nắng vàng hoe
Ve sầu hoan hỉ muà hoa phượng
Tôi đến nhà em lúc xế chiều

Tôi đã thầm yêu độ thuở nào
Khi hoa chưa hé nụ đào tơ
Ngỏ lòng chưa dám đời con gái
Khắc khoải tôi mong những hẹn thề

Tôi đã ra đi vạn nẻo trần
Rừng sâu thăm thẳm dãy trường sơn
Ba lô súng đạn mòn quai dép
Dấu bóng hình em ở trái tim

Xuân đến xuân đi xuân lại về
Lòng tôi đau đáu nhớ miền quê
Hỏi thầm em đã bao nhiêu tuổi
Có nhớ đến tôi có đợi chờ?...

Tôi lại ra đi sang sứ Âu
Em tôi càng lớn lại càng lo
Tuổi đời con gái mơ màng lắm
Lại chẳng bên nhau những sớm chiều?

Tôi vẫn đợi em ánh mắt huyền
Bao muà phượng vĩ nắng vàng xuân
Em tôi đẹp lắm muà trăng đến
Thương chị Hằng Nga nhớ thế trần

Em vẫn coi tôi mãi chỉ anh
Hồn nhiên như thể trái vàng anh
Tình tôi khô héo theo năm tháng
Như lá cây xanh đã rụng cành

Em vẫn ngây thơ vẫn chẳng tin
Rằng tôi thầm nhớ vẫn yêu em
Hững hờ như thể loài vô cảm
Tôi phải chôn sâu nỗi tủi hờn

Đã biết bao muà hoa phượng rơi
Tình em như thể áng mây trôi
Ngỏ lòng vẫn ngại tôi không dám
Nghĩ đi nghĩ lại thôi thì thôi...

Cho hay cũng bởi tình huynh muội
Em lại thương yêu đến một người
Người ấy nhưng mà tôi chán lắm
Giận lòng tôi đã quyết ra đi

Tôi đã đi xa chẳng hẹn về
Tình tôi biền biệt dấu sơn khê
Bỗng nhiên sửng sốt chiều nay gọi
Tôi nhận ra em luống ngậm ngùi

Tôi vẫn tin rằng em gọi tôi
Thẹn thùng em lại dấu tên đi

Nỗi Lòng Của Người Lính Cộng Hòa



 Rõ ràng Anh Hàn Thiên Lương là một thi sĩ và cũng từng là người lính trận của quân lực Miền Nam Cộng Hoà. Chỉ có ai đã từng đổ máu ngoài chiến trường, đã từng bị ngục tù cải tạo những năm tháng đoạ đầy lang thang đằng đẵng qua các trại giam Bắc Việt. Đã được nếm mùi chuyên chính vô sản mới có nỗi lòng khao khát tự do và thấm thiá, đau xót cho

Linh Hồn Trường Sa Và Tô Thùy Yên



 Thưa anh Vương Ngọc Minh! Tôi và anh đã từng trao đổi với nhau về thơ của ông Hữu Loan hay ở chỗ nào? Anh còn làm cả bài thơ và đặt một câu hỏi trong thơ hay ở chỗ nào? Tôi đã kịp thời hiểu được tâm trạng cuả anh và tôi cũng làm bài thơ để đáp lại nỗi lòng trăn trở thi phú cuả anh.

Trả Lời Vương Ngọc Minh Về Hữu Loan



Làm [Thơ] Gì Rồi Cũng Chết.

Thế là "người bị đày đọa
- tự đọa đày nhất việt nam
bị nhũng nhiễu
- tự nhũng nhiễu nhất việt nam"
qua đời...

Trả Lời Cậu Nhỏ To Da Thiếu Anh



 "Ton Da hat geschrieben: „Chau To Da Thieu Anh chao chu Lu Hà, chau xin duoc like bai tho nay cua chu gui tang chi NGUYETNHI ,chau thay bai tho nghe du duong lam nhung chu co the giai thich them cho chau doc va hieu them ve noi dung bai tho nay ko a. Cam on chu truoc. CHAU CHUC CHU CUNG GIA DINH HANNH PHUC VA AN KHANG."

Tiếng Lòng



Hôm nay đọc trang web Tra Sơn Thi Đàn tôi sực nhớ có bài thơ trả lời người yêu cuả Thâm Tâm. Tôi tìm lại bài thơ và tôi càng khảng định 4 bài thơ hai sắc hoa Tigon cuả T.T.kh nhất định do Thâm Tâm làm.Thâm Tâm yêu Khánh.Nhưng Khánh không yêu Thâm Tâm tha thiết    ngoài đời như mô tả trong thơ .Thâm Tâm đã mưọn tên Khánh mà viết ra nỗi lòng mình

Thi Nguyên Và Lu Hà Xướng Hoạ Một Thời



Bài xướng. Ngày Đông:

Tuyết đổ chiều nay có lạnh không..?
Căm căm gió rét cảnh sang đông...
Trước đây tổ mặc, quần xâu lá.
Nay lại con dùng, áo dệt lông.
Bếp lưả trong nhà, phơi áo gió
Lò ga ngoài ngõ, đắp chăn bông
Hỏi xem những kẻ cô đơn ấy...
Viễn xứ, xa người, có nhớ mong...?

Đôi Dòng Về Bài Thơ Tình " Viết Cho Chồng "



Không phải vô tình, hay ý trời xếp đặt mà tôi được đọc một bài thơ tình của một tác giả tên là Nguyễn thị Việt Nga.
 Theo tôi tác giả không phải là người làm thơ chuyên nghiệp có tiếng trong văn đàn, nhưng bài thơ cuả Nga đã khoan vào tâm hồn tôi một nỗi buồn bâng khuâng vẩn vơ ngớ ngẩn. Tôi cứ phải nghĩ mãi về nỗi khổ cuả Nga, về hoàn cảnh ngang trái bi lụy cuộc đời người thiếu phụ mà  Nga đã bật ra  thành những lời giản dị mà làm tan nát lòng người...Tôi buộc phải viết bài tâm sự này hay gọi là bình thơ cũng được. Nếu

Thơ Tôi Khác Thơ Tố Hữu Về Nội Dung Và Nghệ Thuật



Thật ra tôi rất ít thời gian để đọc cái loại thơ hiện thực XHCN ba lăng nhăng cuả ông Tố Hữu. Nhưng do một sự tình cờ mà tôi làm bài thơ với tiêu đề :" Bầm Ơi "
Một sự trùng hợp ngẫu nhiên về cái tiêu đề, nhưng nội dung bài Bầm Ơi cuả tôi hoàn toàn khác với bài "Bầm Ơi " cuả ông Hữu. Cũng chỉ vì có một ngã nặc danh là Cam gì đó, chữ viết tắt: công an mạng.

Hoạ Thơ



Ngày xưa các cụ nhà ta hay làm thơ đường luật. Các cụ thường bám theo vần để hoạ lại thơ của nhau. Nhiều bài chỉ giữ lại vần bằng, nếu thơ theo lối vằn bằng. Còn hoạ theo vần trắc tôi chưa thấy trường hợp nào, nếu thơ theo lối vần trắc ở chữ cuối cùng như câu 1, 2, 4, 6 và 8. Hình như trong lịch sử tôi chưa thấy ai làm. Người ta mới chỉ xét theo luật

Hai Nàng Tiên Thơ Giáng Thế



 Đông Lại Về

Đông đến rồi đây ai có hay
Heo may nhè nhẹ rét vai gầy...
Sầu rơi vắng vẻ lòng tê tái
Người cũ phương nào, thoảng gió bay ? ..

Gió đưa lay động bóng trăng gầy
Tuyết rơi lấp lánh gió vờn bay
Dáng ai hiu hắt bên thềm vắng
Ánh mắt đông buồn giọt lệ cay

Hoạ Thơ Và Tâm Sự Về Hai Sắc Hoa TiGon



 

Tôi đã đọc đi đọc lại 4 bài thơ “ Hai Sắc Hoa TiGon“ nhiều lần của một nữ thi sĩ lấy tên là T.T.Kh. Sau lại nghe nhiều người nói khả năng là của thi sĩ Thâm Tâm. Chính tôi lại là một người trong lúc hứng thú, bốc lên niềm cảm xúc lạ lùng về thân phận và cuộc đời tình